Nhà có tang vẫn có thể đến chùa: phần lớn các chùa không cấm, và chính chùa là nơi nhiều gia đình đến làm lễ cầu siêu, cúng tuần cho người vừa mất. Còn với đền, phủ, đình, nhiều người theo quan niệm dân gian thì kiêng đến lễ trong thời gian để tang, nhất là trong trăm ngày đầu. Hai chuyện này hay bị gộp làm một, nên mới có người tránh cả chùa lẫn đền suốt mấy năm mà không rõ vì sao.
Bài dưới đây đi qua từng lớp: vì sao dân gian kiêng, kiêng đến khi nào theo các cách tính phổ biến, nhà chùa và người trông đền thường nói gì khi được hỏi, và nếu bạn quyết định đi thì làm sao cho nhẹ nhàng, không khiến người xung quanh khó xử. Bài không phán ai đúng ai sai. Đây là chuyện của niềm tin từng nhà, và người quyết định cuối cùng là bạn cùng gia đình mình.
Chùa và đền, phủ, đình: vì sao câu trả lời khác nhau
Chùa là nơi thờ Phật và thường gắn với sinh hoạt của tăng ni, Phật tử. Trong đời sống người Việt, chùa từ lâu đã là nơi lo việc hậu sự: tụng kinh cầu siêu, cúng thất, gửi di ảnh hay hũ tro cốt, làm lễ trăm ngày. Vì vậy chuyện một người đang để tang bước vào chùa là việc rất thường gặp. Nhiều vị tăng ni khi được hỏi thường trả lời rằng chùa không đóng cửa với người có tang, người đang buồn càng nên được đón nhận. Muốn hiểu sâu theo giáo lý thì nên hỏi trực tiếp chư tăng ở ngôi chùa mình đến, vì mỗi nơi có cách giải thích riêng.
Đền, phủ, đình, miếu thì khác. Đây là nơi thờ thần, thánh, Mẫu, Thành hoàng, những vị được dân gian coi là bề trên của cả một vùng. Theo quan niệm của nhiều người, tang là chuyện "trở" của một nhà, mang hơi hướng của cái chết, nên không đem vào chốn thờ thần khi còn đang chịu tang. Nhiều lệ làng xưa cũng không để người đang có đại tang đứng vào hàng tế ở đình. Những kiêng kỵ ấy phần lớn là tập quán truyền miệng, mỗi làng mỗi khác, không có một văn bản chung nào cho cả nước.
Nói cách khác, cùng một câu "có tang có được đi lễ không", câu trả lời ở cổng chùa và ở cổng đền có thể khác nhau. Đó là lý do nên tách hai nơi ra khi hỏi và khi quyết định.
Dân gian kiêng điều gì, và kiêng đến bao giờ
Điều nhiều người kiêng nhất là mang tang phục vào nơi thờ thần: khăn tang, áo xô, băng tang đen trên tay áo. Kế đến là chuyện "cầu xin" trong lúc tang còn mới. Theo cách nghĩ của không ít gia đình, khi người thân vừa mất, việc cần làm là lo cho người đi, chưa phải lúc xin lộc, xin tài cho người ở lại. Có nơi còn kiêng người có tang dự lễ hội làng, rước kiệu, hay đứng vào việc làng trong năm ấy.
Thời gian kiêng thì không thống nhất. Cách tính hay gặp nhất xoay quanh các mốc của tang lễ: qua bốn mươi chín ngày, qua lễ trăm ngày, qua giỗ đầu, hay đợi hết tang sau giỗ hết. Đại tang cho cha mẹ theo lễ xưa kéo dài khoảng ba năm, trên thực tế nhiều nơi làm lễ hết tang sau hai năm, thường gọi là giỗ hết. Tang ông bà, cô dì chú bác thì nhẹ hơn, nhiều nhà chỉ kiêng trong thời gian ngắn. Có gia đình chỉ kiêng đến trăm ngày, có gia đình giữ đến hết tang.
Cũng có vùng gần như không kiêng. Ở nhiều nơi tại Nam Bộ, người nhà vẫn đến chùa, đến miếu thường ngày, chỉ tháo khăn tang trước khi vào. Sự khác biệt này không có gì lạ, vì tập tục tang ma của người Việt vốn đa dạng theo vùng, theo dòng họ, và theo việc gia đình theo đạo Phật nhiều hay ít. Nếu nhà bạn có người lớn tuổi nắm lệ, cách tính của họ thường là cách cả nhà sẽ theo.
Nhà chùa và người trông đền thường ứng xử ra sao
Chùa thường đón người có tang như mọi người khác. Ở nhiều chùa, người có tang đến để làm lễ cầu siêu, xin tụng kinh trong các tuần thất, hoặc chỉ đến ngồi yên một lúc. Nhà chùa thường không hỏi bạn có đang chịu tang không. Nếu muốn làm lễ cho người mất, bạn chỉ cần đến văn phòng chùa hoặc gặp vị thầy trụ trì để hỏi lịch.
Một số chùa nhắc khéo việc tháo tang phục. Có nơi đề nghị người đến lễ ban Phật bỏ khăn tang, băng tang ở ngoài, nhưng vẫn để nguyên khi làm lễ cầu siêu ở nhà thờ Tổ hay nơi đặt linh vị. Không có quy định chung, nên nếu thấy người khác làm thế nào thì làm theo, hoặc hỏi người đang trông coi.
Đền, phủ thường để người đi lễ tự quyết. Người trông đền, thủ nhang hiếm khi hỏi chuyện tang của khách. Phần nhiều họ coi đây là chuyện lương tâm và niềm tin của mỗi người. Một số nơi thờ Mẫu có nếp riêng, kiêng người có tang vào cung cấm phía trong, chỉ lễ ở ngoài.
Đình làng phụ thuộc lệ của từng làng. Ở làng còn giữ tế lễ, người có tang thường không đứng vào ban tế, không khiêng kiệu trong năm có tang. Người ngoài làng đến thăm đình thì ít ai hỏi, nhưng biết được lệ để tự giữ thì vẫn là cách cư xử được quý.
Khi không chắc, câu hỏi trực tiếp là cách nhanh nhất. Một câu hỏi nhỏ với người trông nơi đó, kiểu "nhà con đang có tang, con vào lễ ở đây có tiện không ạ", thường nhận lại câu trả lời rõ ràng và tử tế hơn mọi lời truyền miệng.
Đối chiếu nhanh theo nơi đến
Bảng dưới gom các cách hiểu phổ biến, chỉ để bạn hình dung. Mỗi nơi thờ tự, mỗi gia đình có thể giữ khác.
| Nơi đến | Quan niệm dân gian hay gặp | Cách nhiều nơi thường ứng xử | Gợi ý cho bạn |
|---|---|---|---|
| Chùa | Ít kiêng; nhiều người coi chùa là nơi lo cho người mất | Đón tiếp bình thường, nhận làm lễ cầu siêu, cúng thất | Đi được; tháo tang phục khi lễ ban Phật nếu nơi đó nhắc |
| Đền thờ thánh, thần | Kiêng trong thời gian để tang, nhất là trăm ngày đầu | Thường để khách tự quyết, ít khi hỏi | Nếu đi, chỉ dâng hương tưởng niệm, không mang tang phục |
| Phủ thờ Mẫu | Kiêng khá nhiều, nhất là vào cung cấm | Có nơi chỉ cho lễ ở ngoài | Hỏi thủ nhang trước khi vào sâu |
| Đình làng | Người có đại tang không ra tế, không khiêng kiệu | Theo lệ làng | Hỏi người cao tuổi trong làng |
| Miếu xóm, am nhỏ | Tuỳ vùng, nhiều nơi không để ý | Thường không có người trông | Tự quyết theo nếp nhà mình |
Điểm chung của cả bảng: không nơi nào đòi bạn phải "làm lễ giải" hay đóng thêm tiền vì có tang. Nếu ai đó ở cổng đền nói vậy, bạn có quyền từ chối.
Nếu bạn quyết định đi lễ: những việc nhỏ cho nhẹ nhàng
Khi gia đình đã thống nhất là đi, vài việc dưới đây giúp buổi lễ yên ổn, không làm ai phiền lòng:
- Tháo khăn tang, băng tang trước cổng và cất vào túi, trừ khi bạn đến chính để làm lễ cho người mất.
- Mặc đồ tối màu, giản dị; với đền, phủ, tránh màu quá sặc sỡ trong lúc nhà còn tang.
- Lễ vật nhẹ: hoa, hương, quả là đủ; không cần mâm to, không cần lễ mặn.
- Khi khấn, nói thật hoàn cảnh: nhà vừa có người mất, mình đến để dâng hương, xin cho người đi được thanh thản, người ở lại được yên lòng.
- Không vào những gian người trông coi đã nói là chỉ dành cho người làm lễ, cung cấm, hậu cung.
- Nếu có người lớn trong nhà phản đối, hoãn lại một dịp khác cũng không mất gì.
Danh sách sắm lễ chi tiết cho từng nơi đã có nhiều sách hướng dẫn; ở đây chỉ nhắc rằng trong thời gian tang, ít và gọn thường là lựa chọn được nhiều nhà ưng.
Nếu chưa muốn đi: giữ lòng thành ở nhà
Không đi lễ ở đền chùa không có nghĩa là bỏ trống phần tâm linh của gia đình. Nhiều nhà trong thời gian tang chọn những cách gần gũi hơn:
- Thắp hương ở bàn thờ người mới mất mỗi tối, nói vài lời như khi người còn sống.
- Đọc lại những gì người mất từng dặn, ghi lại những kỷ niệm để con cháu sau này đọc.
- Nhờ người thân không chịu tang đến chùa xin lịch làm lễ cầu siêu, rồi cả nhà cùng đến vào ngày đó.
- Làm một việc tốt mang tên người đã khuất: giúp một người hàng xóm, góp sách cho trường làng.
- Giữ lịch cúng thất, trăm ngày, giỗ đầu đúng nếp nhà; phần mâm cúng và văn khấn có trong các sách lễ phổ biến.
Những cách này không thay được đi lễ với người tin, nhưng giúp cả nhà thấy mình vẫn đang làm điều gì đó cho người đi, thay vì chỉ ngồi lo mình có đang phạm phải điều gì không.
Khi trong nhà mỗi người nghĩ một kiểu
Chuyện hay gặp nhất không phải là chùa có cho vào không, mà là trong nhà mỗi người một ý. Người trẻ muốn đi chùa cho nhẹ lòng, người lớn tuổi lại cho là chưa hết trăm ngày thì chưa nên. Ở những lúc như vậy, điều đáng giữ hơn cả là không để nỗi buồn biến thành cãi vã.
Một cách nhiều gia đình làm là theo cách tính của người chịu tang nặng nhất, thường là vợ, chồng hay con của người mất. Cách khác là đi chùa làm lễ cầu siêu, vì đây là việc ít người phản đối, còn đi đền, phủ để cầu việc riêng thì để sau khi hết tang. Bạn cũng có thể tự nói với người lớn rằng mình không đi để cầu cho mình, mà đi để dâng hương cho người đã khuất; nhiều người lớn nghe vậy sẽ dễ đồng ý hơn.
Cuối cùng, không có lời dạy nào bắt người đang đau buồn phải sợ thêm. Các kiêng kỵ quanh tang lễ sinh ra để giữ sự tôn kính với người mất và với nơi thờ tự. Hiểu được tinh thần ấy rồi, bạn có thể chọn cách làm vừa với gia đình mình mà không cần thấy có lỗi.
Câu hỏi thường gặp
Nhà có tang được bao lâu thì đi lễ đền được?
Không có mốc chung. Cách tính hay gặp là qua bốn mươi chín ngày, qua trăm ngày, qua giỗ đầu hoặc đợi đến khi hết tang, tuỳ quan hệ với người mất và nếp của từng nhà. Người lớn tuổi trong họ thường là người nắm lệ rõ nhất.
Có tang có được đi đám cưới, đi lễ hội không?
Nhiều gia đình kiêng đi đám cưới và tham gia rước kiệu, tế lễ trong thời gian tang còn mới, nhất là trăm ngày đầu. Đây là phong tục, không phải quy định. Nếu đi, nhiều người chọn đến chúc mừng rồi về sớm, không đứng vào việc của nhà cô dâu chú rể.
Đeo khăn tang vào chùa có bị coi là thất lễ không?
Nếu bạn đến chùa để làm lễ cầu siêu cho chính người mất thì việc mang tang phục là bình thường. Nếu chỉ đến lễ Phật hay tham quan, nhiều người chọn tháo khăn tang, băng tang ra để giữ không khí chung. Khi phân vân, hỏi người trông coi chùa.
Có tang có được đi lễ đầu năm không?
Chùa thì phần lớn gia đình vẫn đi, có khi chính là để làm lễ cầu siêu đầu năm cho người mất. Đền, phủ thì nhiều nhà kiêng trong năm có tang và chỉ đi lại khi đã hết tang. Cả nhà nên thống nhất trước khi đi để tránh khó xử.
Người con dâu, con rể có phải kiêng như con đẻ không?
Theo nếp xưa, con dâu chịu tang bố mẹ chồng như con, con rể chịu tang bố mẹ vợ nhẹ hơn. Thực tế nhiều nhà ngày nay không phân biệt nhiều. Nếu hai bên gia đình giữ nếp khác nhau, hỏi người lớn bên có tang để làm theo.
Có ai nói nhà có tang phải làm lễ giải trước khi đi lễ, có nên nghe không?
Không có lệ chung nào bắt người có tang phải làm lễ giải hay đóng tiền thì mới được đi lễ. Nếu có người ở cổng đền, ngoài chùa mời làm lễ kiểu đó và đòi tiền, bạn có quyền từ chối và hỏi lại người trông coi chính thức của nơi ấy.