Hậu cung là gian trong cùng của một ngôi đình hay ngôi đền, nơi đặt ngai thờ, bài vị, tượng hoặc sắc phong của vị thần được thờ. Ở đình làng Bắc Bộ, gian này còn được gọi là cung cấm. Người đến lễ thường chỉ đứng ở gian ngoài, nhìn vào một tấm rèm đỏ hoặc một cánh cửa gỗ đóng kín, và ít ai biết phía sau có gì, vì sao lại đóng, ai mới được vào.
Bài viết giải thích hậu cung theo góc kiến trúc và tập quán: hậu cung nằm ở đâu trong mặt bằng đình, đền; bên trong thường đặt những gì; vì sao các làng giữ kín; những dịp nào mở cửa; người được vào là ai; và người khách nên làm gì khi đứng trước tấm rèm ấy. Những gì viết ra là nếp phổ biến, mỗi làng mỗi đền có lệ riêng.
Hậu cung nằm ở đâu trong một ngôi đình, ngôi đền
Nhiều ngôi đình Bắc Bộ có mặt bằng hình chữ đinh hoặc chữ công. Toà lớn phía trước là đại đình, nơi dân làng tụ họp và làm lễ. Phía sau nối với một gian hẹp hơn chạy dọc vào trong, đó là hậu cung. Có đình làm hậu cung ngay trong lòng gian giữa của đại đình, ngăn bằng vách gỗ và cửa bức bàn. Đình có mặt bằng chữ nhất đơn giản thì gian thờ trong cùng đóng vai trò hậu cung.
Đền cũng có bố cục tương tự, thường theo kiểu tiền tế, trung từ, hậu cung: gian ngoài để tế lễ, gian giữa đặt ban thờ và đồ thờ, gian trong cùng đặt tượng hoặc ngai thần. Ở những đền lớn, giữa các gian có sân nhỏ hoặc ống muống để lấy sáng và thoát nước.
Nhìn từ ngoài vào, bạn sẽ thấy càng vào sâu càng tối và càng nhỏ. Đó là chủ ý của người xưa: không gian thu hẹp dần, ánh sáng giảm dần, để người đến lễ cảm thấy mình đang đi vào nơi tôn nghiêm nhất. Những nhà nghiên cứu kiến trúc cổ hay nhắc tới cách tổ chức không gian này khi so sánh đình, đền với nhà ở dân gian.
Bên trong hậu cung thường có những gì
Không phải hậu cung nào cũng có đủ, và có những làng giữ kín đến mức chỉ vài người biết bên trong đặt gì. Dưới đây là những thứ hay được các nhà nghiên cứu và người giữ đình kể lại.
- Ngai thờ và bài vị: nhiều đình làng không có tượng Thành hoàng mà chỉ có ngai gỗ sơn son thếp vàng, trên đặt bài vị ghi danh hiệu của thần.
- Tượng thần: phổ biến hơn ở đền, nhất là đền thờ nhân thần, danh tướng; tượng thường ngồi trong khám thờ có cửa.
- Sắc phong: các đạo sắc của triều đình phong thần cho làng, được cuộn cẩn thận cất trong hộp sắc hoặc hòm gỗ.
- Mũ áo, hia, đai: bộ trang phục dành cho thần, được thay hoặc chỉnh trang vào những dịp nhất định.
- Thần tích, ngọc phả: văn bản chép sự tích của thần, ở nhiều làng được coi là tài liệu quý của làng.
- Đồ thờ quý: lư hương, đài, nậm rượu, có khi là đồ cổ mà làng cất vào trong cho an toàn.
- Khám thờ, cửa võng, rèm: lớp che chắn bên ngoài để gian thờ luôn kín đáo.
Một số đồ trong hậu cung là cổ vật có giá trị lịch sử. Đây cũng là một lý do thực tế khiến nhiều làng khoá kỹ gian này, bên cạnh lý do tín ngưỡng.
Vì sao hậu cung thường đóng cửa
Quan niệm về sự tôn nghiêm. Theo cách nghĩ dân gian, nơi thần ngự cần được giữ yên tĩnh và sạch sẽ, không phải ai cũng tự tiện ra vào. Giữ kín là một cách thể hiện lòng kính trọng của cả làng.
Lệ làng truyền lại. Nhiều làng có lệ chỉ mở hậu cung vào ngày lễ chính, và chỉ những người được làng cử mới được vào. Lệ này có từ lâu và được giữ như một phần bản sắc của làng.
Giữ gìn hiện vật. Sắc phong giấy, mũ áo vải, đồ gỗ sơn son rất sợ ẩm, sợ ánh sáng mạnh và sợ bị sờ tay. Đóng cửa giúp giảm bụi, giảm chênh lệch độ ẩm và giảm hao mòn.
Chống mất trộm. Đồ thờ cổ ở đình, đền từng bị lấy cắp ở nhiều nơi. Hậu cung khoá kỹ, chìa khoá giao cho người tin cẩn là cách đơn giản nhất để giữ của chung.
Tách việc lễ của dân với việc tế của làng. Người dân lễ ở gian ngoài, còn việc tế chính thức của làng mới đụng đến gian trong. Nhờ vậy gian ngoài luôn mở được cho mọi người, còn gian trong giữ được nghi thức riêng.
Những dịp hậu cung được mở
Mỗi làng mỗi đền quy định khác nhau. Bảng dưới đây gom những dịp hay được nhắc đến; có nơi chỉ mở một lần trong năm.
| Dịp | Người làm việc trong hậu cung | Người đến lễ thấy gì |
|---|---|---|
| Lễ mở cửa đình, đền đầu năm | Ông từ, chủ tế, vài cụ được cử | Rèm được vén, cửa mở, có thể nhìn thấy ngai, tượng từ gian ngoài |
| Lễ chính của thần (ngày sinh, ngày hoá) | Ban tế, người được làng cử dâng lễ vào trong | Thường thấy cửa hậu cung mở trong lúc tế |
| Lễ mộc dục hoặc bao sái | Một nhóm nhỏ được chọn, giữ mình sạch sẽ, làm việc lau rửa đồ thờ, thay mũ áo | Thường không cho người ngoài vào xem; có nơi làm kín |
| Rước thần ra đình trong lễ hội | Người được cử rước bài vị, ngai hoặc sắc từ hậu cung lên kiệu | Thấy đoàn rước đi ra từ phía trong |
| Lễ đóng cửa cuối năm | Ông từ và các cụ | Rèm được buông, cửa khoá lại cho tới năm sau ở một số làng |
Nếu bạn đến đúng một trong những dịp này, cứ đứng ở chỗ được chỉ, nhìn và lắng nghe. Không chen vào đoàn người làm lễ, không giơ máy chụp sát mặt người đang làm việc.
Ai được vào hậu cung
Theo nếp chung, người được vào hậu cung là người làng tin cậy và giao việc: ông từ giữ đình, chủ tế, một vài cụ trong ban tế, người được cử làm lễ mộc dục. Ngày trước, những người này thường phải giữ mình trước ngày lễ theo quan niệm của làng, như ăn chay, kiêng một số việc, tắm gội sạch sẽ, mặc lễ phục. Các làng không giống nhau, có làng chọn người theo tuổi, có làng chọn theo gia đình song toàn, có làng chọn theo bầu cử của giáp.
Ngày nay, khi đình, đền trở thành di tích được xếp hạng, ban quản lý di tích và cán bộ văn hoá cũng có thể vào hậu cung để kiểm kê, chụp ảnh tư liệu, giám sát việc tu bổ. Những người làm nghiên cứu muốn xem sắc phong, thần tích thường phải xin phép làng và ban quản lý, có người đi cùng.
Người khách thì gần như không có lý do gì để vào hậu cung. Nếu bạn là con cháu một dòng họ có công với làng, hay là người viết nội dung cần tư liệu, hãy trình bày rõ mục đích với ban quản lý và người giữ đình, và chấp nhận câu trả lời của họ. Một lời từ chối ở đây không phải là thiếu thân thiện, mà là cách làng giữ lệ.
Gian trong cùng ở đền, phủ, miếu và nhà thờ họ
Ở đền thờ nhân thần. Gian trong thường đặt tượng vị được thờ, có khi kèm tượng phu nhân, tướng hầu. Nhiều đền mở cửa gian này vào ngày lễ chính hoặc cả những ngày rằm, mùng một, để người đến lễ nhìn thấy tượng từ xa. Việc mở hay đóng do ban quản lý đền quyết.
Ở phủ thờ Mẫu. Cung cấm thường là nơi đặt tượng Tam toà Thánh Mẫu ở vị trí cao nhất, phía trong cùng. Khác với đình, phủ hay mở rèm để người đến lễ thấy các ban thờ, nhưng khu vực sát ban Mẫu vẫn chỉ dành cho thủ nhang và người giúp việc ở phủ.
Ở miếu nhỏ. Nhiều miếu chỉ có một gian, ban thờ đặt sát vách, không có hậu cung riêng. Có miếu đặt khám thờ có cửa nhỏ, bên trong là bài vị hoặc tượng. Cửa khám ấy được coi như hậu cung thu nhỏ, khách không tự mở.
Ở nhà thờ họ. Nhiều từ đường cũng chia gian ngoài và gian trong, gian trong đặt bài vị các đời tổ. Người trong họ biết khi nào được mở, còn khách đến dự giỗ họ thì lễ ở gian ngoài như ở đình.
Điểm chung. Dù gọi tên gì, ở đâu, gian trong cùng luôn là chỗ người giữ nơi thờ có quyền quyết định ai được vào. Hiểu điều này thì bạn không cần thuộc lệ từng nơi vẫn cư xử được cho đúng.
Khách đứng trước hậu cung nên làm gì và tránh gì
Phần lớn người đến lễ chỉ gặp hậu cung dưới dạng một tấm rèm đỏ hay một cánh cửa đóng. Những việc dưới đây giúp bạn cư xử cho phải lẽ mà không cần hỏi nhiều.
- Lễ ở ban thờ gian ngoài, coi đó là đủ. Theo quan niệm của nhiều người, lòng thành không đo bằng việc đứng gần hay xa.
- Không vén rèm để nhìn vào, không ghé mắt qua khe cửa, không giơ điện thoại luồn qua song cửa để chụp.
- Không đặt lễ, không đặt tiền lên bậc cửa hậu cung hay nhét qua khe cửa. Muốn gửi lễ vào trong, nhờ người giữ đình.
- Nếu cửa đang mở trong ngày lễ, giữ khoảng cách, không bước qua ngưỡng cửa, để trẻ nhỏ đứng xa.
- Hỏi chuyện người giữ đình về vị thần, về hiện vật bên trong. Đa số các cụ rất vui khi có người quan tâm, và đó là cách hay nhất để hiểu về gian thờ mình không được bước vào.
- Nếu thấy cửa hậu cung bị cạy, bị mở bất thường khi không có ai trông, báo ngay cho người giữ đình hoặc trưởng thôn.
Cách cư xử này cũng áp dụng cho gian trong của miếu, phủ và nhà thờ họ. Nơi nào có lớp rèm hoặc cửa ngăn, đó là ranh giới mà người khách nên dừng lại.
Câu hỏi thường gặp
Hậu cung và cung cấm có phải là một không?
Ở đình làng Bắc Bộ, hai cách gọi này thường chỉ cùng một gian trong cùng nơi đặt ngai, bài vị của Thành hoàng. Ở đền, người ta hay dùng chữ hậu cung. Cách gọi có thể khác nhau tuỳ địa phương và tuỳ sách.
Vì sao nhiều đình không có tượng thần trong hậu cung?
Nhiều làng thờ Thành hoàng bằng ngai, bài vị, mũ áo và sắc phong thay vì tượng. Đây là cách thờ phổ biến ở đình Bắc Bộ. Đền thờ nhân thần, danh tướng thì hay có tượng hơn. Mỗi nơi theo truyền thống riêng của mình.
Khách du lịch có được xin vào hậu cung chụp ảnh không?
Thường là không. Hậu cung là nơi làng giữ kín và nhiều hiện vật là cổ vật. Người làm nghiên cứu hay làm tư liệu có thể xin phép ban quản lý di tích và người giữ đình, nhưng quyết định là của làng và nên được tôn trọng.
Lễ mộc dục ở đình, đền là gì?
Đó là lễ lau rửa, chỉnh trang ngai, tượng, đồ thờ, thường làm trước kỳ lễ lớn hoặc dịp cuối năm. Việc này do một nhóm nhỏ được làng chọn đảm nhận, thường làm kín, người ngoài không vào xem. Cách gọi và thời điểm khác nhau giữa các làng.
Đặt tiền lẻ qua khe cửa hậu cung có được không?
Không nên. Tiền nhét qua khe cửa dễ rơi vãi, gây bừa bộn và khó quản lý. Nếu muốn góp, bạn bỏ vào hòm công đức hoặc gửi người giữ đình. Phần lớn ban quản lý di tích đều nhắc khách không đặt tiền lên ban thờ và cửa thờ.
Thấy cửa hậu cung mở mà không có ai trông thì nên làm gì?
Không bước vào, không chạm vào đồ thờ. Bạn nên báo ngay cho người giữ đình, trưởng thôn hoặc ban quản lý di tích. Có thể đó chỉ là họ quên khoá, nhưng cũng có thể là dấu hiệu bị kẻ gian cạy cửa lấy đồ thờ.